Một kỷ niệm đặc biệt với Trà Vinh
trong thời Thanh niên Tiền Phong
B.S. Nguyễn Lưu Viên
Tuy trong đời của tôi phần lớn là sống ở ngoài tỉnh TràVinh (Sàigòn, Hànội, Bắc
Việt, Sàigòn, rồi Hoa Kỳ), nhưng tôi là một "dân TràVinh" chánh hiệu con nay.
Trong giấy khai sanh của tôi làm hồi thời Pháp thuộc nên viết bằng tiếng Pháp có
ghi rõ: Lieu de naissance : Maternité de TraVinh (nơi sanh : nhà bảo sanh
TràVinh). Bên nội của tôi ở LángThé (tức là làng Nguyệt Lãng, về sau đổi tên là
Bình Phú) cho nên tôi rất nhớ ruộng đất của gia đình tôi ở đồng Cây Cách phía
tay trái trên đường lên cầu Mỹ Huê, để vô An Trường,(có gia đinh của Bác Bảy
Nguyễn viên Kiều), và tôi rất nhớ nhà của gia-đình tôi ở phía tay mặt trên đường
đi Dừa Đỏ (có gia-đình của Dượng Chín Thầy Cai Trí.) Bên ngoại của tôi ở Huyền
Hội (có gia-đình họ Lâm Quang: Lâm Quang Thời, Lâm Quang Vận , Ông Huyện Mẩn, Bà
Chủ Tư ) trên đường đi xuống Khánh Lộc (có gia đình Ông Bác vật Nguyễn khắc Sự,
Ông Tòa Nguyễn khắc Vệ), để qua Ô-Chác, cho nên tôi nhớ chợ "Ất-ếch" lắm.(Hồi
xưa trong Nam danh từ "bác vật"có nghĩa là kỹ sư)
Nhưng hôm nay tôi chỉ xin kể lại đây một giai đoạn rất ngắn của lịch sử tỉnh Trà
Vinh mà tôi đã hân hạnh được biết rõ vì có tham gia một phần.
Hồi ấy là năm 1945. Tôi đang học năm thứ 5 của Trường Thuốc Hà Nội (Faculté
Mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi), tức là còn một năm nữa thì trình
luận án để lãnh bằng cấp Y-Khoa Bác-sĩ. Ngày 9-tháng 3-1945, quân đội
Nhựt Bổn đảo chánh Pháp trên toàn cỏi ĐôngDương. Rồi ngày 11-tháng 3-1945,
Vua BảoĐại tuyên bố Việt Nam độc lập, không còn là thuộc địa của Pháp nữa.
Trường Đại Học đóng cửa, sinh viên Nam Kỳ ra Bắc học (vì hồi thời ấy toàn Đông
Dương gồm có Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Mên và Lào, chỉ có một Trường Đại Học
đặt tại HàNội), phải mau mau chạy về Saigon, vì lúc ấy ngoài Bắc đang bị một nạn
đói khủng khiếp (hơn một triệu người chết đói).
Về
trong Nam tôi được nhận vào làm việc trong Nhà Thương Tỉnh TràVinh (Hôpital
provincial de TraVinh). Lúc ấy bác sĩ Pháp Médecin-chef đã bị Nhựt bắt cầm tù
như tất cả người Pháp khác, nên trong nhà thương chỉ còn có một bác-sĩ Việt Nam
là Bác-sĩ Nguyễn An Trạch ( rể của Đốc Phủ Sứ, về sau là Thủ Tướng, Nguyễn văn
Tâm ),nên tôi một sinh viên y-khoa gần ra bác-sĩ được "welcome".
Phong trào ThanhNiên TiềnPhong, với sự giúp đỡ của Nhựt, được phát động
một cách hết sức rầm rộ. Sinh viên Miền Nam từ Hà Nội về, tham gia tích cực, và
trở thành nồng cốt của phong trào. Bài hát "Tiếng Gọi Sinh Viên"của
sinh-viên y khoa Lưu Hữu Phước (học dưới tôi một lớp) trở thành bài hát "Tiếng
Gọi Thanh Niên" , là bài hàt chính thức của phong trào Thanh Niên Tiền
Phong. (sau nầy sẽ là bài quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa mà tôi sẽ nhắc đến cũng
như một kỷ niệm trong phần sau).
Tức nhiên tôi, trong cương vị một sinh viên từ Hà Nội về, cũng tham gia hết sức
tích cực vào phong trào ở tỉnh, và dạy cho thanh niên bài hát nói trên. Người
đứng đầu Đoàn Thanh Niên Tiền Phong Tỉnh Trà Vinh là Ông Từ Bá Đước, môt
chủ điền có tiếng ở trong tỉnh (là anh của Ông Từ Bá Hòa, ở Tiểu Cần.) Trong
thời gian này tôi ở nhà gia đình Ông Hội Đồng Tươi trên đường đi Cầu Ngang.
Cũng trong thời gian ấy, anh sinh-viên y-khoa Đặng Ngọc Tốt, anh sinh viên
y-khoa Huỳnh Bá Nhung (hai anh học trên tôi một lớp) và anh sinh-viên
Nông-Lâm-Súc Ngô Tấn Nhơn tổ chức một cuộc hợp bạn Sinh Viên Nam-kỳ ở Suối-Lồ-Ồ
gần Thủ Đức, và thành lập đảng Tân Dân Chủ trong Nam (ngoài Bắc đã có
đảng Tân Dân Chủ của anh sinh-viên Luật Khoa Dương đức Hiền). Rồi mấy anh ấy đi
khắp Sàigòn, Chợlớn, và Lục Tỉnh (có đến TràVinh) để trình bày chủ nghỉa của
đảng dựa trên thuyết và sách Tân Dân Chủ Nghỉa Luận của Mao Trạch Đông viết hồi
năm 1937-38, và để tuyển mộ đảng viên. Trong những đảng viên được tuyển mộ
hồi lúc ấy có kiến-trúc-sư Huỳnh Tấn Phát, bà Nguyễn Thị Bình và luật-sư Nguyễn
Hữu Thọ, về sau sẽ giữ những chức vụ quan trọng trong Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam.
Trong khi đó thì ở ngoài Huế, Vua Bảo Đại chỉ định Cụ Trần Trọng Kim làm
Thủ Tưông.
Thủ Tướng TrầnTrọng Kim thành lập Nội Các gồm toàn là những bậc đại khoa bảng
của Việt Nam hồi thời ấy, là những người quốc gia hết lòng yêu nước nhưng mù mờ
chánh trị. Nội Các bổ nhiệm Ông Nguyễn văn Sâm làm Khâm Sai Nam Kỳ, tức
là thay cho Le Gouverneur de Cochinchine của Pháp (Chức Khâm Sai hồi thời ấy
được Pháp dịch là "Vice Roi", về sau sẽ được gọi là Thủ Hiến).
Rồi KhâmSai Nguyễn Văn Sâm bổ nhiệm cho tỉnh Trà Vinh:
1-Ông
Từ Bá Đứơc làm TỉnhTrửơng tỉnh TràVinh (tức là thay cho L'Adninistrateur
Chef de Province cũ);
2-Ông
Luật sư (hồi đó trong Nam còn gọi là Ông Thầy Kiện) Trần Văn Trí (em
của B.S.Trần Văn Đỗ, Ngoại Trửơng của VNCH sau nầy) làm Chánh Án
(tức là thay cho Le Juge Chef du Tribunal de 1ère Instance cũ );
3-Ông
Nguyễn Lưu Viên làm Trưởng Ty Cảnh Sát(tức là thay cho Le Commissaire de
Police, Chef de la Garde Indigène cũ ).
4-Ông … (tôi quên mất, không nhớ có phải là Ông Laurent Trí không?) làm Trưởng
Ty Tài Chánh (tức là thay cho Le Trésorier Payeur cũ); và
5-Bác sĩ Nguyễn An Trạch làm Trưởng Ty Y-Tế (tức là thay cho Le Médecin
Chef cũ.
Thế là, không biết Ất Giáp gì hết, tự nhiên tôi thành "Ông Cò Viên". Cho tới bây
giờ tôi cũng không biết hồi đó ai đề nghị và tại sao. Có lẽ vì tôi đã hết sức
tích cực với phong trào Thanh Niên Tiền Phong chăng? Vì Ông Từ Bá Đước, Trưởng
Đoàn Thanh Niên Tỉnh thì được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng. Còn các chức vụ khác
trong năm chức vụ đầu tỉnh thì phải có chuyên môn: như Ông Tòa phải biết luật
pháp thì cử Luật sư Trí, Ông Médecin Chef thì phải có bằng cấp bác sĩ nên cử
B.S. Trạch, Ông Kho-bạc Trésorier-Payeur thì phải biết kế-toán comptabilité.
(Những vị này cũng đều có chân trong Đoàn Thanh Niên Tiền Phong của Tỉnh).
Lúc ấy là vào lối tháng 7-1945.
Tôi đến "Bót" (Commissariat) để "nhậm chức". Vì Ông Cò Pháp đã bị Nhựt Bổn bắt
về Saigon làm tù binh, nên chỉ có một thầy đội điều khiển bót, thầy đội đưa cả
đội lính của "La Garde Indigène" sắp hàng trước bót, bồng súng (súng mousqueton)
dàn chào ông chef mới (còn trẽ măng vì hồi đó tôi mới có 26 tuổi ). Rồi thầy đội
đưa tôi vô trong bót và trao cho tôi một cây súng lục (pistolet) để cho tôi đeo,
"cho có cái oai khi thừa hành nhiệm vụ", và tôi phải dọn lại ở luôn trong bót
trên lầu. Độ một tháng sau, thì trong bót tôi có thêm vài cây súng hai lòng bắn
chim và bốn năm cây súng sáu revolver của mấy ông chủ điền và ông dân Tây đem
đến nạp, vì theo lịnh của Chánh Phủ không ai còn có quyền giữ súng ống nữa. Cũng
may mà nhờ phong trào Thanh Niên Tiền Phong, nên toàn dân trong Nam hồi lúc ấy,
trên dưới một lòng, trong nước không có ăn trộm ăn cướp, nên công việc của "ông
cò" cũng nhẹ và tôi không phải bắt bớ giam cầm ai hết. Hằng ngày tôi chỉ có đi
bộ hay cởi xe máy có hai người lính theo sau, đi rảo trong thành phố để coi
chừng an ninh và gìn giữ trật tự. Một việc làm tôi còn ngạc nhiên là sau khi
Nhựt đảo chánh, ngày 9-tháng
3-1945, tất cả công chức Pháp, lớn nhỏ, của bộ máy cai trị thực dân đều bị Nhựt
bắt đem về Saigon làm tù binh, vậy mà bộ máy hành chánh vẫn chạy đều như thường,
không đâu có loạn lạc.
Đến tháng 8-1945, ngoài Bắc, Mặt Trận Việt Minh xuất hiện. Cái gọi
là "Cách Mạng ngày 19-tháng 8-1945 thành công". Khâm Sai Bắc Kỳ Phan Kế Toại đầu
hàng Việt Minh.
Trong Nam thì đảng viên CS Trần Văn Giàu cướp chánh quyền, thành lập "Ủy Ban
Hành Chánh Nam Bộ" ở Saigon.
Trà Vinh cũng phải có "một cuộc Cách Mạng", do đó, một ngày, tôi không nhớ rõ
ngày nào trong hạ tuần tháng 8-1945, một toán lối một trăm người, biểu tình, tay
cầm gậy gộc, la ó om sòm, đến dinh Tỉnh Trưởng đòi Ông từ chức. Tôi đã đem lính
đến bảo vệ dinh Tỉnh Trưởng, nhưng Ông Tỉnh Trưởng biểu tôi đừng phản ứng, rồi
Ông chấp nhận từ chức, và giao dinh với Tòa bố cho bọn họ, để họ tổ chức "Ủy
Ban Hành Chánh Tỉnh" với Ông Nguyễn văn Khâm (thường gọi là Bảy Khâm) làm
Chủ Tịch, và ông Mười Trinh (tôi không biết họ) làm "Ủy Viên An Ninh" thay thế
tôi. Thế là tôi bàn giao chức "Ông Cò" lại cho ông Ủy Viên Trinh, và trở về làm
"toubib" ở Nhà Thương.
Ở
Huế, ngày 26-tháng 8-1945 Vua Bảo Đại thoái vị để "thà làm dân một
nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ" và trao ấn với kiếm của
nhà vua cho Trần Huy Liệu, đại diện của Hồ Chí Minh.
Ở
Hà Nội ngày 2-tháng 9-1945, Hồ chí Minh tuyên bố thành lập Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa.
Ở
ngoài Bắc và Trung Kỳ các lãnh tụ quốc gia bị thủ tiêu. Ở Saigon các nhà cách
mạng không theo Đệ Tam Quốc Tế, như nhóm Đệ Tứ với Trần văn Thạch, Hồ vĩnh Ký,
B.S. Nguyễn Thị Sương cũng bị thủ tiêu, còn Tạ Thu Thâu thì bị giết ở Quảng
Ngải, và những người quốc gia có uy tín như ông Khâm Sai Nguyễn văn Sâm, Ông Đô
Trưởng Saigon-Chợ Lớn Hồ văn Ngà.
Ở
Trà Vinh Ủy Ban Hành Chánh Tỉnh cũng đi lùng bắt những chánh khách có uy tín hồi
thời ấy, bị gán cho tội là "việt gian". Người có tiếng nhứt ở Trà Vinh hồi lúc
ấy là Ông Lê Quang Liêm, tự là Bảy, trong đảng "Lập Hiến" và báo "La Tribune
Indochinoise" của Ông Bùi Quang Chiêu. Hai Ông này khi trước dưới thời Pháp
thuộc là thành viên của "Hội Đồng Quản Hạt" (Conseil Colonial), một cơ quan tư
vấn của người bản xứ indigène cạnh Thống Đốc Nam Kỳ Gouverneur de Cochinchine.
Ông Lê Quang Liêm bị bắt và bị cái gọi là "Tòa Án Nhơn Dân" kết án tử hình và bị
xử bắn tại sân banh (tức là sân vận động ). Vì vậy mà dưới thời VNCH sau này,
thành phố Phú Vinh của tỉnh Vĩnh Bình có đường Lê Quang Liêm chạy từ sân bay đến
sân vận động.
Lúc ấy cũng có nhiều người bị bắt hay bị giết chết oan chỉ vì mặc trong người
hay có trong valy một cái áo dài mà dọc theo sống lưng có một đường vải ba màu
xanh-trắng-đỏ, thì bị vu oan là "việt gian" nên đeo cờ Pháp trong người để làm
dấu hiệu.
Rất may phước cho tôi lúc ấy không còn làm "ông Cò" nữa, vì mổi khi xử bắn một
người bị kết tội là "việt gian" ở sân vận động, thì "ông Cò" (bây giờ là ông ủy
viên An ninh Trinh) phải đứng ra chỉ huy "phân đội hành hình" (peloton
d'exécution) nhấm phạm-nhân rồi ra linh "Bắn" và khi phạm-nhân ngã gục thì phải
đến gần sát để bắn một phát súng sáu revolver vào màng tang (tempe) để giết cho
chết hẳn (tiếng Pháp gọi là "coup de grâce" phát súng ân huệ). Tôi nói rất may
phước cho tôi là vì Ông Lê Quang Liêm dit Bảy, người đầu tiên bị xử bắn ở sân
vận-đông, là phụ-thân của người bạn chí thân cùng học một lớp với tôi ở Trường
Thuốc Hànội là Bác sĩ Lê quang Thuận mà bạn bè gọi là "Thuận mập". May phước cho
tôi không phải ra lịnh: Bắn" và không phải bắn "phát súng ân huệ" .
Ủy
Ban Hành Chánh Tỉnh còn đề nghị đổi tên tỉnh TràVinh thành "Tỉnh Trần Hữu Độ",
như Saigon đổi thành "Thành Phố Hồ Chí Minh" ) bởi vì Ông Trần Hữu Độ, người gốc
ở TràVinh về sau lên ở Saigon, là một nhà cách mạng lão thành theo Đệ Tam Quốc
Tế, đã nhiều lần bị Pháp bắt bỏ tù trong Khám Lớn Saigon. Nhưng đề nghị chưa
được Trung Ương cứu xét thì ngày 21-tháng 9-1945, ở Saigon có cuộc đánh nhau
giữa Việt Nam với Pháp, và " Nam Bộ Kháng Chiến Chống Pháp" bắt
đầu. Trong Nam các Ủy Ban Hành Chánh Tỉnh đều được cải thành "Ủy Ban Hành Chánh
Kháng Chiến Tỉnh".
Trung Ương ra lịnh tổ chức " Tuần Lể Vàng" trong toàn quốc, nói là "để
mua khí giới đánh Pháp". TràVinh cũng tổ chức "Tuần Lể Vàng", rất có kết quả,
thành công ngoài sự mơ ước, vì lòng yêu nước ai ai cũng muốn tham gia. Các bà
các cô cởi hết cà-rá, vòng tay, dây chuyền, bông tai, các ông lấy hết vàng cất
trong tủ sắt, đem đến" cúng cho đất nước". Nghe nói trên toàn quốc đâu đâu cũng
có kết quả "ngoài sức tưởng tượng"(hình như được tất cả là trên 800 cân (lbs.)
vàng ). Và về sau nghe đồn rằng vàng đó được dùng vào việc " hối lộ" Tướng Lư
Hán, chỉ huy trưởng quân đội Trung Quốc đang chiếm đóng ngoài Bắc (như quân đội
Anh đang chiếm trong Nam theo quyết định của Hội Nghị Yalta giữa các cường
quốc), bởi vì Tướng Lư Hán thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng nên Hồ Chí Minh phải
hối lộ ông ta để cho ông ta đừng có xúi và giúp Việt Nam Quốc Dân Đảng đảo chánh
mà lật đổ mình là Cộng Sản.
Nam Bộ kháng chiến tiếp tục với thanh niên Miền Nam cầm «tầm vông vạt nhọn »
hăng hái xung phong đánh Pháp. Nhưng rồi quân Pháp chiếm được Tân An, rồi
MỹTho, và tiến xuống VĩnhLong.
Đầu tháng 11-1945, khi nghe VĩnhLong bị Pháp chiếm thì Trà Vinh được lịnh chuẩn
bị di tản. Khi nghe Pháp hướng về TràVinh, thì Ban Y-tế của Tỉnh Trà Vinh (có
thêm B.S.Tạ Trung Quân, một nha-sĩ có tiếng ở TràVinh) cho di chuyển Nhà Thương
về làng BaSe (quê của Thủ Tướng Cao Mên Sơn NgọcThành), rồi lại về Huyền Hội
đóng ở nhà lầu rất đẹp của Cậu Sáu Thăng (anh của Cậu Bảy Lâm Quang Khương).
Rồi khi nghe Pháp xuống tới Nước Xoái Mân Thít, thì chạy vào Tân An, ( có gia
đình Cậu Ba Tộ và Cậu Tư Vĩnh) rồi khi nghe Pháp xuống tới Trà Vinh thì chạy về
Chợ Thầy Phó vào lúc gần Lể Giáng Sinh Noel 1945 .
Đến đây thì được lịnh giải tán bịnh nhơn vì Trà Vinh đã mất. Ban Y-tế được chia
ra làm hai : "Nhóm 1" đi theo Bác sĩ Nguyễn An Trạch hướng về CầuKè để qua
SócTrăng rồi xuống Cà Mau Khu 9. Nhóm này về sau sẽ tập kết ra Bắc. «Nhóm 2"
theo B.S.Quân và tôi, đi băng đồng về làng Hiếu Đức đến ở nhà Ông Bác-vật Ca,
rồi mấy ngày sau mọi người, trừ tôi, theo đường sông ra Cầu Vĩ để về VĩnhLong.
Còn tôi thì cùng với một người anh họ chèo ghe qua Mỏ Cày ở nhà của Chị Sáu tôi,
vì lúc ấy BếnTre chưa mất, hãy còn "độc lập".
Từ
Mỏ Cày tôi theo ghe chài đi đường biển lên Phước Hải, vì cùng với B.S.Nguyễn Thị
Lợi tôi tình nguyện đi phục vụ trên Khu 7 (của Tướng Nguyễn Bình). Nhưng khi đến
Phước Hải thì được tin Bà Rịa đã mất và không còn giây kiên lạc với Khu 7 được,
nên sau vài tháng ở Phước Hải ở nhà Ông Tư Hanh tôi lại đi ghe bầu ra Tam Quan ở
Miền Trung được coi là vùng "Việt Nam Tự Do Độc Lập". Rồi từ Tam Quan tôi lên xe
lửa ra Hànội. Lúc đó là lối trung tuần tháng 6-1946 .
Ra
Hà Nội tôi được làm nội-trú Interne des Hôpitaux ở Bênh-viện BạchMai, để chuẩn
bị thi ra Bác sĩ. Ngày 19-tháng12-1946, súng nổ ở HàNội, và Toàn Dân Kháng Chiến
Chống Pháp bắt đầu. Tôi lại tham gia kháng chiến ngoài Bắc với các chức vụ
Quân-y Trưởng Trung Đoàn 48 Thăng Long, rồi Quân-y Trưởng Sư-Đoàn 320 của Văn
Tiến Dũng cho tới năm 1951 mới "dzin" vào HàNội rồi về Nam ở Sài Gòn chớ không
có về Trà Vinh. (Chữ "dzin" là tiếng lóng ngoài Bắc dùng để nói là "bỏ khu kháng
chiến để vào Hà nội").
Trên đây là một kỷ niệm đặc biệt của tôi với tỉnh TràVinh, một kỷ niệm mà tôi sẽ
ghi nhớ suốt đời, và tôi xin nhắc lại đây một cách trung thực để cho các bạn
đồng hương già, cở tuổi tôi (Tết này là 86 ta) nhớ lại, và các bạn đồng hương
trẻ hơn biết tới, cái gì đã xẩy ra cho " tỉnh nhà "mến yêu của chúng ta, trong
những ngày hết sức quan trọng của đất nước Việt Nam từ là một thuộc-địa của Pháp
bước qua thành một quốc gia độc lập của Đông Nam Á Châu.
Những kỷ niệm với Bài Quốc Ca của VNCH
Ngày 30 tháng 4 năm 2005, Việt Nam Cộng Hòa đã mất 30 năm rồi. Nhưng mỗi khi
chúng ta hội họp thì chúng ta vẫn thiết tha chào Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VNCH và
hát bài quốc ca “Này Công Dân Ơi, Quốc Gia Đến Ngày Giải Phóng”của VNCH. Trong
tâm trí của mỗi nguời chúng ta thường hiện lên một số hình ảnh và sự việc trong
quá khứ liên quan đến bài hát mà chúng ta đang hát.
Anh Chị nào tuổi duới 35, sanh đẻ bên này hoặc theo cha mẹ qua đây lúc còn quá
bé, thì chắc sẽ nhớ đến những buổi chào cờ trong những ngày lễ VN ở đâu đó, trên
đất Mỹ. Anh chị nào tuổi độ 40- 45, khi qua đây đã 10-15 rồi, thì chắc sẽ nhớ
đến những buổi chào cờ ngày Thứ Hai ở truờng nào đó mình đang học ở VN. Anh chị
nào đã 50, 60, hoặc 70 tuổi thì chắc nhớ đến những buổi chào cờ ở công sở nào
đó, hoặc ở đơn vị quân sự nào đó. Còn mấy “ông già” 80-90 tuổi, thì chắc còn nhớ
đến nhiều chuyện khác nữa.
Tôi, thuộc hạng “mấy ông già” đó, thì có rất nhiều kỷ niệm với bài ca ấy. Nên
hôm nay tôi xin chia sẻ những kỷ niệm ấy với các bạn vì những kỷ niệm ấy dính
liền với một giai đoạn lịch sử của nuớc Việt Nam mà chắc một số bạn đọc không có
sống qua trong thời đó.
Hồi xưa, dưới thời Pháp thuộc, toàn cỏi Đông Dương gồm có Nam Kỳ, Trung Kỳ. Bắc
Kỳ, Cao-Mên và Ai-Lao, chỉ có một Truờng Đại Học đặt tại Hà Nội . Cho nên thanh
niên Nam Kỳ, Trung Kỳ, Cao-Mên và Ai-Lao, sau khi đậu Tú Tài toàn phần mà muốn
lên học Đại Học, và có phương tiện, thì phải ra Hà Nội học.
Hằng năm vào mùa Xuân, Tổng Hội Sinh Viên (Association générale des
étudiants indochinois, viết tắc là A.G.E.I.) có tổ chức một ngày lễ của
Tổng Hội, gọi là “Journée de l’A.G.E.I.“ ban ngày thì tranh thể thao và
tranh giải bóng tròn, tối lại thì có đêm Văn-Nghệ ở Nhà Hát Lớn (Théâtre
Municipal) của thành phố Hà Nội, thường đuợc “Quan Thống Sứ Bắc-Kỳ “ (Le
Résident Supérieur du Tonkin) hay, vinh dự hơn nữa,“Quan Toàn Quyền
Đông-Dương”(Le Gouverneur Général de l’ Indochine) chủ tọa.
Năm ấy là năm 1945, ngày “Journée de l’ A.G.E.I.” được cho phép tổ chức vào
cuối tuần (week-end) thứ bảy 3 và chúa nhựt 4 tháng 3. Đêm Văn-Nghệ là tối
Thứ Bảy 3-3-1945 sẽ đuợc “Quan Tòan Quyến “ Amiral Jean Decoux chủ tọa.
Để
trình diễn trong đêm ấy anh em sinh viên Bắc-kỳ có chuẩn bị một vở kịch lịch sử
tựa là “Thời Thế Thế Thời Phải Thế “, nói về Ngô Thời Nhiệm hồi đời Tây-Sơn,
còn Anh em sinh-viên Nam-kỳ thì chuẩn bị một số đơn-ca và hợp-ca là những bài
mà anh em đã trình diễn trong nội-bộ ở Hội Nam-Kỳ Tương Tế trong đêm
Giao-Thừa Tết Ất Dậu năm ấy, như những bài “Chi Lăng”, “Hận Sông Gianh” ”Hồn Tử
Si”, “Tiếng Gọi Sinh viên” của anh sinh-viên Y-Khoa năm thứ tư Lưu Hữu Phuớc
sáng tác.
Khi trình bày về chương trình của mỗi nhóm sinh-viên cho Ủy Ban Tổ Chức ngày lễ
thì Anh Chủ Tịch của Tổng Hội có ý-kiến lấy bài “Tiếng Gọi Sinh Viên” làm thành
một bài hành khúc của sinh viên cho tất cả mọi sinh viên hát. Nhưng vì lời trong
bài, do hai anh sinh viên Y-Khoa Mai Văn Bộ và sinh viên Nha-Khoa Nguyễn Thành
Nguyên viết, có tánh cách thuần túy VN , nên Anh Chủ Tịch Tổng Hội cho thành lập
một tiểu ban có sinh viên Pháp và sinh viên Việt để viết lại lời bằng tiếng Pháp
cho tất cả sinh viên Pháp,Việt, Mên, Lào đều có thể đồng ca.
Kết quả là bài “Tiếng Gọi Sinh Viên” trở thành bài “Sinh Viên Hành
Khúc” “La Marche Des Étudiants” với hai bản lời ca như sau:
1
- Bằng
tiếng Việt:
Này sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi,
Đồng lòng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối,
Vì
non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam, cùng nhau ta kết đòan,
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Dù
kém sức kém tài xin rán,
Thời khó thế khó khó làm yếu ta,
Dù
muôn chông gai vững lòng chi sá,
Đời mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồng thiếu niên, ai đó can trường.
Điệp Khúc:
Sinh viên ơi, ta quyết đi đến cùng,
Sinh viên ơi, ta nguyền đem hết lòng,
Tiến lên đồng tiến, vẻ vang đời sống,
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng.
2
- Bằng
tiếng Pháp:
Étudiants, du sol l’appel tenace,
Pressant et fort retentit dans l’espace,
Des côtes d’Annam, aux ruines d’Angkor,
À
travers les monts du Sud jusqu’au Nord,
Une voix monte ravie :” Servir la chère patrie,
Toujours sans reproche et sans peur,
Pour rendre l’avenir meilleur,
La
joie, la ferveur, la jeunesse,
Sont pleines de fermes promesses “.
Refrain:
Te servir, chère Indochine,
Avec coeur et discipline,
C’est notre but, c’est notre loi,
Et rien n’ébranle notre foi.
Đến đêm 3-3-45 là đêm trình diễn Văn Nghệ ở Nhà Hát Lớn của thành phố Hà
Nội, thì khi “Quan Toàn Quyền” Amiral Decoux đến, ban nhạc của Hải Quân
(Orchestre de la Marine) đánh bài quốc thiều Pháp La Marseillaise thì mọi nguời
đứng lên nghiêm trang chào. Rồi liền sau đó đánh luôn bài “La Marche des
Étudiants” thì tất cả sinh viên Pháp, Việt, Mên, Lào, có mặt đều đứng lên và
đồng loạt hát “Étudiants du sol l’appel tenace.....” thì mọi nguời kể cả Quan
Toàn Quyền cũng đứng lên theo để chào. Sau đó mới tới phần diễn kịch, đơn ca và
họp ca, đúng theo chương trình.
Ở
đây tôi xin phép lưu ý bạn đọc về một cái trớ trêu của lịch sử là bản
nhạc mà về sau sẽ đuợc dùng làm quốc thiều cho một nuớc VN độc lập
lại duợc lần đầu tiên chính thức và công khai “đánh lên” truớc công chúng
là do Ban Nhạc Orchestre de la Marine của Quan Toàn Quyền cuối cùng của
Pháp đang cai trị một nuớc VN thuộc địa. Và vị đại diện chính thức của chính
quyền, đầu tiên đứng lên chào bản nhạc ấy lại là Quan Tòan Quyền đại diện chính
thức của Pháp đang cai trị VN thuộc địa (Đúng theo protocole thì vị
đại diện chính thức của một chánh phủ đến chủ tọa một cuộc lể của một hội tư,
chỉ phải đứng lên chào quốc thiều của nuớc mình và của nuớc bạn mà thôi, chớ
không phải đứng lên chào bài ca của một hội tư.) Phải chăng đây là một “dấu
hiệu báo truớc” rằng bản nhạc này sẽ là một quốc thiều?
Chưa đầy một tuần lể sau, đêm thứ Sáu 9-3-1945, quân đội Nhựt Bổn đảo
chánh Pháp trên tòan cỏi Đông Dương. Truờng Đại Học đóng cửa. Vì ngoài Bắc đang
có nạn đói hoành hành (chết cả triệu nguời) nên sinh viên Nam Kỳ phải mau mau
chạy về Sài Gòn hoặc bằng xe lửa hoặc bằng xe đạp.
Vua Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, không còn là thuộc địa của Pháp nữa. và chỉ
định Cụ Trần Trọng Kim thành lập Nội Các. Nội Các bổ nhiệm Ông Nguyễn Văn Sâm
làm Khâm-sai (vice-roi) Nam Kỳ. Trong Nam phong trào Thanh Niên Tiền Phong
(TNTP) đựơc phát động hết sức mạnh mẽ và rầm rộ. Tất cả sinh viên Nam Kỳ của
Đại Học Hà Nội đã về trong Nam thì tham gia tích cực và hết sức hăng hái, nên
trở thành nòng cốt của phong trào, nhứt là trong công tác thu góp và chuyển vận
lúa gạo để cứu giúp nạn đói ngoài Bắc. Bài caTiếng Gọi Sinh Viên đuợc chấp nhận
làm bài ca chính thức của phong trào TNTP sau khi đuợc sửa lại là ’Tiếng Gọi
Thanh Niên” trong đó tất cả các chữ “sinh viên” đều được thay thế bằng chữ
“thanh niên” ( Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi Thanh niên ơi, ta
quyết đi đến cùng, thanh nhiên ơi ta nguyền đem hết lòng....)
Đến tháng 8-1945, ở ngoài Bắc Khâm-sai Phan Kế Toại đầu hàng Việt Minh; ở
Huế Thủ Tuớng Trần Trọng Kim từ chức, Vua Bảo Đại thoái vị; ở SàiGòn tên Cộng
Sản Trần Văn Giàu đảo chánh, bắt rồi giết Khâm-sai Nguyễn Văn Sâm.
Đến tháng 9-1945, Nhựt Bổn đầu hàng Đồng Minh; ở Hà Nội Hồ Chí Minh tuyên
bố thành lập VN Dân Chủ Cộng Hòa. Quân Đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng kéo vào Bắc
Việt, quân đội Anh kéo vào Nam Việt, đúng theo quyết định của Hội Nghị Yalta, để
giải giáp quân đội Nhựt Bổn. Pháp núp sau lưng quân đội Anh để trở lại SàiGòn,
cho nên ngày 21-9-1945 ở Saigon có sự đụng độ giữa Pháp, VN và “Nam Bộ
Kháng Chiến” bắt đầu.Thanh niên trong phong trào Thanh Niên Tiền Phong đem
theo khí giới gì mình có, cho nên tay cầm súng thì ít [mà súng là súng bắn chim
hoặc súng sáu (pistolet) chớ làm gì có súng trận] còn cầm mã tấu với tầm vong
vạc nhọn thì nhiều, tập hợp lại đồng ca bài “Tiếng Gọi Thanh Niên”, rồi được
chia ra làm nhiều “ổ kháng chiến” ở những xóm Bàn Cờ, Tân Bình, Xóm
Chiếu, Phú Nhuận, Cầu Muối, đêm đêm du kích hăng hái xông đánh vào những cơ quan
Pháp, hoặc vào những khu gia-cư có nhiều Pháp kiều.
Ở
ngoại ô, dân quân đuợc tập hợp thành lập gọi là 4 Sư-Đòan (Đệ Nhứt Sư Đoàn của
Kiều Công Cung, Đệ Nhị Sư Đòan của Nguyễn Văn Đẩu, Đệ Tam Sư Đoàn của Nguyễn Hòa
Hiệp, Đệ Tứ Sư Đòan của Lý Huệ Vinh ) và Bộ Đội Bình Xuyên của Ba Dương, bao vây
chung quanh thành phố, trấn giữ các ngõ ra vào. Nhưng không lâu, sau khi được
viện thêm binh, thì quân Pháp đánh bung ra khỏi SàiGòn, và 4 Sư đoàn ấy, vì kém
tổ chức, kém huấn luyện, kém vũ khí, nên lần luợt bị tan rả, còn Bộ Đội Bình
Xuyên thì rút về Rừng Sát.
Nhưng Nam Bộ kháng chiến vẩn tiếp tục. Hội nghị ĐaLạt rồi Hội Nghị Fontainebleau
không đi đến đâu. Ngày 19-12-1946, súng nổ ở HàNội và “Toàn Dân Kháng
Chiến” bắt đầu. Chiến tranh kéo dài thành “trường kỳ kháng chiến”.
Ngày 8-6-1948 ở Vịnh Hạ Long, rồi ngày 8-3-1949 ở điện Élysée,
Pháp nhìn nhận cho VN độc lập trong Liên Hiệp Pháp, với cựu Hoàng Bảo Đại làm
Quốc Truởng. Quốc Truởng Bảo Đại đứng ra thành lập chánh phủ. Trong Nội Các
có nhiều vị Tổng. Bộ Truởng, (như B.S.Nguyễn Tôn Hòan: Bộ Thanh Niên; Cụ Trần
Văn Ân: Bộ Thông Tin; Cụ Trần Văn Văn :Bộ Kinh Tế Tài Chánh) khi truớc có tham
gia “Nam Bộ Kháng Chiến”, có chứng kiến cái cảnh thanh niên cầm “tầm vong vạc
nhọn” tập hợp lại, hát bài “Tiếng Gọi Thanh Niên”, rồi được chia ra từng đoàn để
hăng hái xung phong đánh quân Pháp, mở màn cho cuộc chiến tranh giành độc lập,
nên đề nghị lấy bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” làm bài quốc ca của Quốc
gia VN. Nội các chấp thuận và giao cho Bộ Thông Tin của Cụ Trần Văn Ân sửa
lại lời cho hợp với môt quốc ca như sau:
Tiếng Gọi Công Dân:
Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng,
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống,
Vì
tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dù
cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước lấy máu đào đem báo,
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy
Nguời công dân luôn vững bền tâm trí,
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng nguời nước Nam cho đến muôn đời.
Điệp khúc:
Công dân ơi, mau hiến thân dưới cờ,
Công dân ơi, mau làm cho cỏi bờ,
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống,
Xứng danh nghìn năm dòng giống Lạc Hồng.
Đó
là bài hát mà chúng ta đã hát khi còn ở VN là công dân của “Quốc Gia VN”
với Quốc Trưởng Bảo Đại, công dân của “VN Đệ Nhứt Công Hòa ” với Tổng Thống Ngô
Đình Diệm, công dân của “VN Đệ Nhị Cộng Hòa ” với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,
và là bài hát mà chúng ta vẩn tiếp tục hát sau khi đã thành công dân của
“Cộng Hòa Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ“ và sẽ còn hát mãi mãi.
Ghi chú :
Bài Tiếng Gọi Sinh Viên còn có hai đọan ca (couplets) như sau:
II
-
Này sinh viên ơi, dấu xa vết còn chưa xóa,
Hùng cường trời Nam, ghi tên bảng vàng bia đá,
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam Tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hòan,
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng “Sát Đát” Trần Quốc Tuấn,
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám,
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang ta thấp hương nguyền.
Điệp khúc:
Sinh Viên ơi, ta quyết đi đến cùng …v.v.
III-
Này sinh viên ơi, muốn đi đến ngày tươi sáng,
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng,
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng,
Là sinh viên vun cây văn hóa,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá,
Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai,
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái,
Bền chí quyết cố gắng làm cho khấp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
Điệp khúc: Sinh viên ơi, ta quyết đi đến cùng…..v.v.
Hai couplets sau có tánh cách hoàn toàn Việt Nam nên không có lời bằng
tiếng Pháp.
Nguyễn Lưu Viên